Hỗ trợ lẫn nhau trực tuyến và khủng hoảng trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động Việt Nam

Tình trạng lạm dụng lao động ngày càng trầm trọng trong bối cảnh Việt Nam thiếu các quy định của nhà nước, báo chí lao động không còn được hoạt động và những cải cách lao động của Ả Rập Xê Út chỉ mang tính hình thức. Trong hoàn cảnh đó, các nữ lao động Việt Nam giúp việc nhà ở Ả Rập Xê Út và thân nhân của họ ở Việt Nam đã dùng hình thức hỗ trợ lẫn nhau trực tuyến để huy động sự ủng hộ của cộng đồng mạng xã hội, và để đòi quyền lợi và công lý. Tuy nhiên, phương pháp này không thể thay thế việc Việt Nam phải có những biện pháp cụ thể để kỷ luật cả một ngành xuất khẩu lao động trên toàn quốc đã đồng lõa sâu xa với hệ thống Kafala trong việc lạm dụng lao động Việt Nam giúp việc gia đình ở vùng Vịnh.

Năm 2014, Việt Nam và Ả Rập Xê Út ký Hiệp định Lao động Song phương (HĐLĐSP) để  quản lý việc đưa phụ nữ Việt Nam sang làm giúp việc gia đình theo chế độ bảo lãnh thị thực kafala, một chế độ phổ biến ở Ả Rập Xê Út và các nước vùng Vịnh khác.

Những vấn đề trong quá trình thực hiện HĐLĐSP đã được ghi nhận rõ ràng, không chỉ ở Việt Nam mà cả ở các nước xuất khẩu lao động khác. Chế độ kafala buộc các nữ lao động giúp việc nhà người Việt phải phụ thuộc vào người bảo lãnh Ả Rập Xê Út để có quyền cư trú và giấy phép lao động, nên các hành vi lạm dụng và vi phạm quyền lao động cứ thế tiếp diễn mà không bị trừng phạt, cũng không có ai giám sát. Các nghiên cứu về những HĐLĐSP mà các nước xuất khẩu lao động khác (như Ấn Độ và Ai Cập) ký với các nước vùng Vịnh cũng cho thấy những hiệp định này không xử lý được các vi phạm và lạm dụng đối với lao động của họ.

Online mutual aid and the crisis of Vietnamese labour advocacy

Abuses of female Vietnamese domestic workers in Saudi Arabia continue

HĐLĐSP Việt Nam–Ả Rập Xê Út ra đời trong giai đoạn hoạt động bảo vệ quyền lao động của các xã hội dân sự Việt Nam được cho phép hoạt động, bắt đầu từ đầu những năm 2000. Khi ấy, báo chí lao động và các tổ chức phi chính phủ quốc tế đã vào cuộc bênh vực người lao động, và thành công trong việc đưa vấn đề giám sát hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam vào chương trình nghị sự của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.

Từ năm 2015 đến năm 2021, báo chí lao động Việt Nam đã phơi bày tình trạng bóc lột và ngược đãi mà các nữ lao động giúp việc gia đình phải chịu đựng ở Ả Rập Xê Út, cũng như lời yêu cầu khẩn thiết của thân nhân họ ở quê nhà, kêu gọi chính phủ và các công ty tuyển dụng đưa vợ, con, chị, em mình về nước.

Sau báo cáo đặc biệt năm 2021 của Liên Hợp Quốc về nạn buôn người ở Việt Nam, Việt Nam bị hạ xuống Hạng 3, mức thấp nhất, trong Báo cáo Nạn Buôn bán Người (TIP) năm 2022 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Điều này thúc đẩy chính phủ Việt Nam có một số hành động ngắn hạn để đáp lại các quan ngại của Hoa Kỳ và sự phẫn nộ của dư luận quốc tế. Hai tùy viên lao động tại Đại sứ quán Việt Nam ở Riyadh, được lên án là đã tiếp tay cho các trường hợp bóc lột nữ lao động giúp việc gia đình ở Ả Rập Xê Út, đã bị điều tra và cho thôi việc.

Tuy nhiên, từ năm 2022, một số thay đổi mang tính cơ cấu đã bắt đầu kết thúc ngay cả những tiến triển còn hạn chế này. Trước hết, chính phủ Việt Nam hạn chế các hoạt động của các báo chí lao động Việt Nam, không cho đăng các bài viết về nỗi khổ của các nữ lao động ở Ả Rập Xê Út và các hoạt động vận động cầu cứu của thân nhân họ. Những biện pháp kiểm duyệt báo chí này đã giúp đưa Việt Nam quay lại “danh sách theo dõi Hạng 2″ trong Báo cáo Nạn Buôn bán Người (TIP) 2023 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, rồi được phục hồi về lại Hạng 2 vào năm 2024 và 2025. Đáng nói hơn là báo cáo năm 2025 cho biết hai tùy viên lao động từng bị thôi chức nêu trên đã được phục chức vì “thiếu bằng chứng”!

Những sự thay đổi này có ý nghĩa gì đối với những người vận động cho việc bảo vệ người lao động và quyền lợi của họ khi làm việc ở Ả Rập Xê Út? Trong bối cảnh quyền lực ngày càng được tập trung, cùng với những thay đổi gần đây trong thể chế quản lý lao động, báo chí lao động bị ngừng hoạt động, xã hội dân sự bảo vệ quyền lợi của người lao động bị cấm hoạt động và các cải cách kafala ở Ả Rập Xê Út không được thực thi, người lao động và thân nhân phải tự đối phó với HĐLĐSP và chế độ kafala vốn đầy lạm dụng. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy xã hội dân sự đang đối phó với việc chính phủ Việt Nam tập trung quyền lực bằng cách chuyển sang huy động trực tuyến cá nhân, trên các mạng xã hội để hỗ trợ lẫn nhau.

Những thay đổi về mặt cơ cấu tổ chức và những cải cách không đi vào thực tiễn

Sự chuyển dịch này diễn ra trong hai bối cảnh chính trị. Ở Việt Nam, không gian vận động cho quyền lao động ngày càng thu hẹp khi đảng và nhà nước tăng cường quản lý và kiểm soát đối với xã hội dân sự. Còn ở Ả Rập Xê Út, những “cải cách chính sách” chỉ xuất hiện trên văn bản chứ không đi vào thực tế.

Chính phủ Việt Nam tập trung quyền lực bắt đầu từ năm 2025 và siết chặt hơn trong năm 2026, thông qua việc sắp xếp lại bộ máy hành chính và dập tắt sự giám sát của xã hội dân sự. Cụ thể, năm 2025, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (MOLISA) đã giải thể. Cục Quản lý lao động ngoài nước (DOLAB), trước đây trực thuộc bộ này, được chuyển giao chức năng cho Bộ Nội vụ.

Online mutual aid and the crisis of Vietnamese labour advocacy

Abuses of female Vietnamese domestic workers in Saudi Arabia continue

Trong cơ cấu tổ chức mới này, các quy định của chính phủ về quyền của những người xuất khẩu lao động không còn được minh bạch và trách nhiệm giải trình không còn được rõ ràng như dưới thời MOLISA. Trên trang web của Bộ Nội vụ, hiện không có danh sách các cán bộ phụ trách văn phòng Quản lý lao động ngoài nước. Văn phòng này này nằm trong một cơ cấu mới gồm 22 đơn vị hành chính và các tổ chức dịch vụ công. Với một bộ máy hành chính lớn như vậy, việc tiếp nhận và xử lý khiếu nại sẽ gặp nhiều khó khăn.

Đồng thời, đường dây nóng 24 giờ của MOLISA về lao động giúp việc gia đình và nạn buôn người cũng được chuyển sang Bộ Y tế. Những thay đổi hành chính này diễn ra song song với việc báo chí lao động Việt Nam bị ngừng hoạt động, nằm trong xu hướng tăng cường kiểm soát chính trị đối với các cơ quan truyền thông được nhà nước cho phép. Kết quả là người lao động và thân nhân không còn kênh thông tin chính thức nào để giám sát hay phản ánh những bức xúc của mình.

Như vậy, HĐLĐSP vẫn còn hiệu lực nhưng không có cơ chế nào buộc hai chính phủ phải chịu trách nhiệm với người lao động và gia đình họ. Khi sự giám sát vốn đã hạn chế của DOLAB không còn, nhiều công ty tuyển dụng của Việt Nam hoạt động lừa đảo vì không chịu sự giám sát nào của cả hai chính phủ. Trang web của các công ty tuyển dụng Việt Nam được nhà nước cấp phép vẫn tiếp tục đăng thông tin về xuất khẩu lao động sang Ả Rập Xê Út đến năm 2025. Theo đó, trong số 20.000 lao động Việt Nam tại Ả Rập Xê Út, hơn 7.000 người làm giúp việc gia đình, chỉ đứng sau nhóm lao động ngành chế biến dầu mỏ. Tuy nhiên, các trang web này không nhắc đến việc gần như toàn bộ lao động giúp việc gia đình là phụ nữ, cũng không đề cập đến cơ chế bảo vệ nào dành cho họ.

Một trong những công ty tuyển dụng tai tiếng ở Việt Nam là VINACO (còn gọi là VINACOHR), hoạt động với sự cho phép của chính phủ từ năm 2003. Từ năm 2019, sự tắc trách nghiêm trọng của VINACO đối với sự an nguy của người lao động đã khiến một số người phải mất mạng. Một trường hợp tai tiếng là VINACO tuyển một phụ nữ dân tộc thiểu số Jarai chưa đủ tuổi để đi xuất khẩu lao động (mới 16 tuổi), H Xuân Siu, ở Đắk Lắk (Tây Nguyên), rồi khai tăng tuổi của cô trên giấy tờ để cô đủ tuổi hợp pháp sang Ả Rập Xê Út làm giúp việc gia đình. Sau hai năm làm việc ở đó và chịu đựng bạo hành thể xác, cô khẩn khoản xin VINACO đưa mình về nước nhưng không nhận được sự giúp đỡ nào. Cuối cùng, cô chết vì suy tim ở tuổi 18. Lời cầu cứu khẩn thiết của cô được thân nhân đưa lên Facebook. Nhưng VINACO chậm trễ hành động, khiến hài cốt của cô được chôn cất tại Ả Rập Xê Út vào năm 2021, và thân nhân cô bị tước mất quyền được tiễn đưa cô theo đúng nghi lễ của dân tộc cô.

Về phía Ả Rập Xê Út, thực tế cho thấy những “nỗ lực cải cách lao động” được công khai tuyên bố chỉ nhằm xoa dịu công phẫn toàn cầu chứ không thực sự được thực thi. Các tổ chức giám sát độc lập tiếp tục đặt nghi vấn về việc thực thi các cải cách lao động từ tháng 10/2024, trong khi các tổ chức nhân quyền chỉ ra rằng những cải cách này không bảo vệ các lao động nước ngoài giúp việc gia đình hiện vẫn nằm trong hệ thống kafala ở Ả Rập Xê Út. Ngay cả những “cải cách” đối với chế độ bảo lãnh kafala được công bố trong gói “nỗ lực cải cách lao động” cũng vẫn loại trừ lao động giúp việc gia đình ra khỏi sự bảo vệ của Luật Lao động Ả Rập Xê Út.

Tóm lại, chế độ kafala “vẫn tồn tại nguyên vẹn, trực tiếp tạo điều kiện cho lao động cưỡng bức,” cùng với một báo cáo của Liên đoàn Lao động Quốc tế hồi tháng 11/2025 nêu ra những cáo buộc của công đoàn về tình trạng ăn cắp tiền lương, tuyển dụng lừa dối và việc hạn chế đi lại của lao động giúp việc gia đình vẫn tiếp diễn. Tại thời điểm viết bài (2026), bằng chứng cho thấy những lao động giúp việc gia đình ở Ả Rập Xê Út than phiền là hộ chiếu của họ bị kafeel tịch thu.

Năm 2026, Bộ Nhân lực và Phát triển Xã hội Ả Rập Xê Út (HRSD) bắt đầu áp dụng hệ thống điện tử Musaned, cho phép truy cập vào hệ thống hợp đồng điện tử và lương điện tử mới, cũng như các kênh khiếu nại và giải quyết tranh chấp của HRSD.

Nhưng hệ thống  này có nhiều lỗ hổng lớn đến mức không thể thực thi. Trước hết, hệ thống điện tử Musaned chỉ có tiếng Anh và tiếng Ả Rập, những ngôn ngữ mà hầu hết những người lao động giúp việc nhà không biết. Với những lao động dân tộc thiểu số không được học hành cơ bản, thậm chí còn không đọc được tiếng Việt, họ không thể dùng hệ thống điện tử này để nộp khiếu nại. Nhiều lao động dân tộc thiểu số (không đọc được tiếng Việt) đã phải “ký” hợp đồng lao động bằng cách in dấu vân ngón tay lên từng trang hợp đồng lao động mà không hiểu quyền của mình, cũng như trách nhiệm của kafeel và các công ty tuyển dụng.

Các kênh khiếu nại và giải quyết tranh chấp cũng giả định rằng người lao động có thể dùng điện thoại để gọi tới đường dây nóng của HRSD. Trên thực tế, nhiều kafeel vẫn tịch thu điện thoại của người lao động ngay khi họ vừa đến nơi. Ngay cả khi có người xoay xở nộp được khiếu nại, cũng không có gì bảo đảm tên họ được giữ bí mật. Việc vi phạm tính bảo mật này sẽ khiến người lao động không dám khiếu nại vì sợ bị kafeel trả thù.

Hơn nữa, hệ thống Musaned không có cơ chế thực thi nào để bảo đảm người lao động được nghỉ phép đúng quyền, được bố trí chỗ ở phù hợp, được nhận bảo hiểm (sức khỏe, nhân mạng) và được đưa về nước sau khi hoàn tất hợp đồng. Các phát hiện từ nghiên cứu mạng xã hội của chúng tôi xác nhận rằng những người xuất khẩu lao động không được hưởng những quyền lợi này, vì những lỗ hổng đã nêu trên.

Sự xuất hiện của hình thức hỗ trợ lẫn nhau trực tuyến

Khi nhà nước Việt Nam không còn giám sát lao động, báo chí lao động bị ngừng hoạt động, xã hội dân sự liên quan đến quyền lợi của người lao động bị cấm hoạt động và các cải cách kafala ở Ả Rập Xê Út chỉ có trên hình thức, người lao động và thân nhân của họ đang thích nghi với những thay đổi này như thế nào để tìm kiếm sự giúp đỡ và tạo sức mạnh cho mình?

Nghiên cứu này tiếp nối một dự án nghiên cứu rộng hơn từ năm 2023. Dự án đó đã phê phán rằng Hiệp định Lao động Song phương (HĐLĐSP) Việt Nam–Ả Rập Xê Út đã không mang lại phúc lợi xã hội và không bảo vệ cho các nữ lao động người Việt giúp việc gia đình tại Ả Rập Xê Út. Bài viết này là một nghiên cứu gốc về cách người lao động và thân nhân họ ứng phó với HĐLĐSP và chế độ kafala của Ả Rập Xê Út bằng cách dùng mạng xã hội, trong bối cảnh xã hội dân sự bị cấm hoạt động và báo chí lao động ở Việt Nam bị đóng cửa.

Cụ thể, nghiên cứu này cho thấy người lao động và thân nhân họ đang dùng mạng xã hội để lên tiếng bảo vệ quyền lợi của mình. Qua phân tích 161 mẩu bình luận trên Facebook từ tháng 3 đến tháng 8/2026, chúng tôi nhận thấy những hành động vận động đơn lẻ, thông qua huy động trực tuyến để hỗ trợ lẫn nhau, đang ngày càng quan trọng, vì báo chí lao động cùng các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế không còn được đóng vai trò “gia tăng sức mạnh” để khuếch đại tiếng nói của người lao động như trước.

Khi không còn báo chí ủng hộ người lao động, sự bảo vệ của chính phủ hay các tổ chức phi chính phủ hoạt động tích cực để khuếch đại những bức xúc của họ, mạng xã hội đã mang lại những kết quả kịp thời, tuy không hữu hiệu bằng sức mạnh tập thể trước đây, để giúp cho người lao động và những thân nhân đang đau xót vì mất đi người thân trong gia đình do bị lạm dụng. Chúng tôi dùng khái niệm hỗ trợ lẫn nhau trực tuyến để xem xét cách các cộng đồng mạng xã hội đã vào cuộc trước vấn nạn của HĐLĐSP, và cung cấp cho các thành viên cộng đồng mạng nhiều hình thức hỗ trợ xã hội.

Khi phân tích 161 mẩu tin, chúng tôi sắp xếp thông tin này thành các chủ đề chính, qua đó thấy những người lao động giúp việc gia đình và thân nhân của họ đã dùng mạng xã hội để xin hướng dẫn, nhờ hỗ trợ và cảnh báo lẫn nhau về sự bóc lột, rủi ro và nguy hiểm khi làm việc ở Ả Rập Xê Út. Chủ đề bóc lột lao động phơi bày cường độ làm việc rất nhiều giờ hằng ngày, việc phải làm cho nhiều hộ kafeel không được ghi trong hợp đồng, thiếu ăn thiếu uống và không có thời gian cho riêng mình. Chủ đề đối xử vô nhân đạo cho thấy cảnh bị bỏ đói và không được nghỉ ngơi ngay cả khi ốm. Chủ đề chấn thương kéo dài nói về những nỗi đau vẫn đeo bám họ ngay cả khi đã trở về Việt Nam. Chủ đề khuyên không nên sang Ả Rập Xê Út làm việc nói về công việc chăm sóc gia đình sẵn có ở Việt Nam với điều kiện làm việc và sinh sống tốt hơn, lương cao hơn. Cuối cùng, chủ đề tịch thu phơi bày một vấn đề thường xuyên tái diễn là hộ chiếu, điện thoại và đồ dùng cá nhân của người lao động bị tịch thu ngay khi đến Ả Rập Xê Út, một việc làm vi phạm trực tiếp những “cải cách lao động” mà Ả Rập Xê Út đã công bố.

Huy động trực tuyến trên mạng để đòi công lý cho người vợ đã khuất

Tháng 8/2026, chúng tôi thực hiện hai cuộc phỏng vấn với ông Hầu Văn Hành, người có vợ là bà Hoàng Thị Mỵ qua đời năm 2021 khi đang làm việc ở Ả Rập Xê Út. Chúng tôi cũng phân tích các bài đăng Facebook của ông cùng những tài liệu gốc (gồm hợp đồng lao động của bà Hoàng Thị Mỵ với công ty tuyển dụng xuất khẩu lao động VINACO và các đơn kiến nghị ông gửi tới các cơ quan nhà nước).

Các hình thức hỗ trợ lẫn nhau trực tuyến đã giúp ông và thân nhân có chỗ dựa về tinh thần và pháp lý, dù còn xa mới có giải pháp thỏa đáng để giải quyết sự bất công mà họ đang phải chịu. Khi cả hai chính phủ và công ty VINACO đều từ chối hay chậm chạp trong giúp đỡ, người chồng nhận được sự ủng hộ về tinh thần và pháp lý qua hơn 50 bình luận rải rác trong 4 nhóm Facebook (từ 21 tháng 7 đến 7 tháng 8/2026). Trong các bài đăng, ông tự nhận mình là “người nông dân thấp cổ bé họng,” nhưng ông nhờ những người ủng hộ đăng lời kêu cứu của mình lên mạng xã hội của họ để “đòi công lý cho người đã mất.” Phương cách hỗ trợ lẫn nhau trực tuyến khôn khéo ấy đã giúp tiếng nói của ông vươn xa hơn 50 bình luận kia, đến công chúng toàn cầu, trong đó có chúng tôi, những học giả đã quyết định thực hiện nghiên cứu này.

Cuộc đấu tranh suốt năm năm vì phẩm giá và công lý cho người vợ đã khuất, qua những bài đăng trên mạng xã hội, cho thấy xã hội dân sự đang đáp ứng để đối phó với xu hướng tập trung quyền lực ở Việt Nam khi người lao động và thân nhân họ phải tự lo cho mình. Sự hỗ trợ trực tuyến đến từ nhiều nhóm, trước hết là những nhóm hướng đến phụ nữ như Hội Chị Em Thái Nguyên và VƯƠNG QUỐC ĐÀN BÀ LÀM VIỆC TẠI Ả RẬP XÊ ÚT. Ông còn tìm đến các nhóm Facebook thảo luận về chính sách của nhà nước, như Truyền Hình Quốc Hội (với nhiều bình luận có tính phản biện) và Thông tin Chính Phủ (nay đổi tên thành Asia Travel News Group), và nhận được ở đó lời khuyên cùng sự hỗ trợ về pháp lý. Một luật sư đã tình nguyện giúp ông miễn phí trong các thủ tục pháp lý khi làm việc với các cơ quan chính quyền địa phương và trung ương.

Nghiên cứu cho thấy HĐLĐSP đã không thực thi được những điều khoản trong hợp đồng mà người lao động đã ký với công ty tuyển dụng. Bà Hoàng Thị Mỵ, người dân tộc H’mông, ký hợp đồng với VINACO năm 2019 và chết trong một tai nạn ô tô năm 2021 khi đi cùng với gia đình kafeel sang Jordan. Việc bà vẫn phải chăm sóc các con của họ trong chuyến đi này là một vi phạm rõ ràng trong hợp đồng với VINACO, vốn quy định là bà chỉ làm việc tại nhà của gia đình kafeel ở Ả Rập Xê Út

Thi hài bà đã không được đưa về Việt Nam, và thân nhân bà không nhận được bồi thường về sự qua đời của bà. Hợp đồng giữa bà và kafeel không được tìm thấy, nên không thể xác định chính xác nghĩa vụ pháp lý của họ. Tuy nhiên, hợp đồng của bà ký với VINACO nêu rõ kafeel có nghĩa vụ mua bảo hiểm sức khỏe và tai nạn, đồng thời bồi thường cho thân nhân còn sống của bà theo luật Ả Rập Xê Út nếu bà qua đời.

Các cuộc phỏng vấn với người chồng cho biết là bà Hoàng Thị Mỵ phải làm việc trong điều kiện bị bóc lột. Bà phải làm việc liên tục 17 giờ mỗi ngày, 7 ngày mỗi tuần, chỉ được nghỉ từ 11 giờ đêm đến 6 giờ sáng trong căn phòng đơn của mình, mà vẫn phải thức dậy nhiều lần mỗi đêm để chăm bốn đứa con của kafeel. Khi bà cần nghỉ ngơi để lấy lại sức khỏe, kafeel và vợ ông ta đã tát vào mặt bà để cảnh cáo bà phải quay lại làm việc. Tất cả những điều này rõ ràng vi phạm hợp đồng với VINACO, vốn đòi hỏi gia đình kafeel phải bảo đảm người lao động được nghỉ “ít nhất 9 giờ mỗi ngày” trong chu kỳ 24 giờ.

Những vi phạm khác cho thấy các “cải cách lao động” của Ả Rập Xê Út không có hiệu quả, nhất là khi áp dụng các điều khoản của hợp đồng điện tử Musaned. Khi vừa đến Ả Rập Xê Út, toàn bộ đồ đạc cá nhân của bà Hoàng Thị Mỵ, gồm hộ chiếu, điện thoại, giấy tờ và quần áo, đều bị tịch thu. Bà chỉ được dùng điện thoại gọi về nhà mỗi tháng một lần, mỗi lần chỉ từ 30 phút đến một giờ. Kafeel nắm toàn quyền kiểm soát đồng lương hằng tháng mà bà phải đổ mồ hôi mới có được. Trong hơn 20 tháng bà làm việc ở đó, chồng bà phải van xin kafeel gửi lương của vợ về để nuôi ba đứa con nhỏ. Điều này vi phạm hợp đồng với VINACO, trong đó công ty có trách nhiệm phối hợp với kafeel để bảo đảm người lao động có thể trực tiếp gửi tiền về nhà theo quy định của pháp luật.

Rốt cuộc, xã hội dân sự, bằng hình thức huy động có tính cách cá nhân, chỉ có thể đối phó một cách hạn chế với sự bóc lột mang tính hệ thống của HĐLĐSP. Mới đây, nhóm Facebook Truyền Hình Quốc Hội, nơi có nhiều bài đăng phản biện, đã bị tạm dừng vô thời hạn từ ngày 28/9/2026, cho thấy chính quyền Việt Nam đang kiểm duyệt chặt chẽ các hoạt động hỗ trợ lẫn nhau trực tuyến.

Với ông Hầu Văn Hành, vì không thể buộc kafeel chịu trách nhiệm và không có hợp đồng của vợ với kafeel, ông quay sang VINACO để đòi bồi thường và đòi đưa thi hài bà về nước, theo đúng các điều khoản trong hợp đồng của bà với công ty. Thế nhưng VINACO liên tục lần lữa việc xử lý hồ sơ, đòi hỏi thêm văn bản khiến quá trình kéo dài, và ông hiện đứng trước nguy cơ thật sự là vụ việc sẽ bị đóng vĩnh viễn khi hết thời hiệu năm năm vào năm 2026 (bà mất năm 2021).

Những hướng đi phía trước

Hỗ trợ lẫn nhau trực tuyến và huy động trên mạng dù giúp được phần nào cho người lao động và thân nhân, vẫn không đủ để đối phó với những lạm dụng mang tính hệ thống của chế độ kafala, khi các quy định chưa được thực thi đầy đủ ở phía Việt Nam, không gian hoạt động của xã hội dân sự bị thu hẹp và báo chí lao động không còn được hoạt động. Dư luận thế giới cần biết đến bạo lực có tính hệ thống của HĐLĐSP Việt Nam–Ả Rập Xê Út, một chính sách vẫn tiếp tục gây thương tổn cho những lao động nữ mà không bị trừng phạt. (Cả Việt Nam lẫn Ả Rập Xê Út đều chưa phê chuẩn Công ước số 189 năm 2011 của ILO về quyền của người lao động giúp việc gia đình.)

May mắn là các tổ chức nhân quyền và công đoàn trên thế giới đã đẩy mạnh nỗ lực phơi bày và lên án những vi phạm đang diễn ra của chế độ kafala. Ngày 29/4/2026, các chuyên gia độc lập của Liên Hợp Quốc về chế độ nô lệ, di cư và buôn người đã công khai kêu gọi Ả Rập Xê Út bãi bỏ hoàn toàn chế độ kafala trước thềm FIFA World Cup 2034, viện dẫn các bằng chứng về việc người lao động chết mà không ai chịu trách nhiệm, ăn cắp tiền lương và tịch thu giấy tờ tùy thân. Phù hợp với lập luận của chúng tôi, họ cũng nhận ra những rào cản đối với người lao động muốn tố cáo lạm dụng: nỗi sợ bị trả thù, thiếu hỗ trợ pháp lý và hệ thống hành chính phức tạp. Hai trường hợp tử vong (H Xuân Xiu và Hoàng Thị Mỵ) khớp với phát hiện này của Liên Hợp Quốc rằng thân nhân của những lao động đã qua đời gặp rất nhiều khó khăn khi tìm kiếm thông tin, đòi trách nhiệm giải trình và bồi thường từ nước ngoài. Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) vào tháng 5/2026 cũng nhắc lại những lo ngại đó, gọi chế độ kafala là một “khuôn khổ quản trị lao động mang tính phân biệt chủng tộc”.

Chính phủ Việt Nam có thể học hỏi được từ hành động của các chính phủ Philippines và châu Phi để bảo vệ tốt hơn các nữ lao động người Việt giúp việc gia đình. Chính phủ Philippines và các nước châu Phi đã mạnh mẽ lên án chế độ kafala. Ngày 4/6/2025, Liên đoàn Công đoàn Quốc tế (ITUC) khu vực châu Phi dẫn đầu các công đoàn của 36 quốc gia nộp đơn khiếu nại theo Điều 26 của ILO chống lại Ả Rập Xê Út, đề nghị lập một Ủy ban Điều tra về việc các hành vi lạm dụng và vi phạm mang tính hệ thống đối với lao động châu Phi giúp việc gia đình vẫn tiếp diễn mà không bị trừng phạt.

Đơn khiếu nại của ITUC khu vực châu Phi được tiếp nhận vào tháng 11/2025, nhưng Ả Rập Xê Út tìm cách đóng hồ sơ sớm tại phiên họp tháng 3/2026, khiến Tổ chức Ân xá Quốc tế và Tổ chức Theo dõi Nhân quyền cùng lên tiếng phản đối, cảnh báo rằng việc đóng hồ sơ sẽ “phớt lờ nhiều bằng chứng về tổn hại vẫn đang tiếp diễn”. Những lời cung khai mạnh mẽ về sự bóc lột và xâm hại tình dục đối với lao động giúp việc gia đình người Philippines ở Ả Rập Xê Út đã được công bố trong một báo cáo của Tổ chức Ân xá Quốc tế hồi tháng 7/2026. Tháng 6/2026, ILO, Philippines và Ban Điều hành Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (GCC) đã khởi động Nền tảng Đối thoại Liên khu vực về Bảo trợ Xã hội cho Lao động Di cư dọc hành lang Á Đông và Vùng Vịnh. Nền tảng này nằm trong chương trình STREAM rộng hơn của ILO, trong đó lao động giúp việc gia đình được nêu là lĩnh vực cần quan tâm đối với lao động nữ di cư.

Việt Nam có thể tham gia chương trình Hành lang Á Đông và–Vùng Vịnh để bảo vệ các nữ lao động người Việt giúp việc gia đình. Khi đó, Việt Nam sẽ nhận được sự hỗ trợ của các tổ chức nhân quyền và công đoàn trên thế giới trong việc kêu gọi Ả Rập Xê Út thực thi thật sự những cải cách lao động đã hứa, nhất là đối với lao động giúp việc gia đình.

Cuối cùng, sau 12 năm, những lao động Việt Nam như bà Hoàng Thị Mỵ vẫn phải ký hai hợp đồng riêng biệt: một với công ty tuyển dụng Việt Nam (hợp đồng mà đa số người lao động có trong tay, nhưng không được nó bảo vệ), và một với chủ thuê Ả Rập Xê Út (kafeel) cùng công ty tuyển dụng của ông ta (hợp đồng mà đa số người lao động không có trong tay, nên không thể đòi thực thi).

Các hợp đồng với VINACO liên tục không bảo vệ quyền lao động của công dân Việt Nam. Còn hợp đồng giữa người lao động và kafeel mà họ không có trong tay, vốn nằm trong vòng kiểm soát của các quy chế về lao động giúp việc gia đình của Ả Rập Xê Út, thì hoàn toàn không có sự giám sát công khai nào để bảo đảm được thực hiện đúng đắn. Hợp đồng này lại rất quan trọng vì nó quy định điều kiện làm việc và nghỉ ngơi, ăn ở, việc liên lạc với gia đình ở Việt Nam, chăm sóc sức khỏe, y tế và bảo hiểm, và địa chỉ nhà của kafeel nơi người lao động được phân công làm việc (vì trên pháp lý, người lao động chỉ phải làm việc tại một hộ gia đình), đồng thời cấm mọi hành vi ngược đãi về thể xác, tinh thần, tình dục hoặc dưới bất kỳ hình thức ngược đãi nào khác.

Hợp đồng Lao động Tiêu chuẩn (SEC) đã phải được Việt Nam và Ả Rập Xê Út thực hiện từ năm 2014, và do bốn bên cùng ký (người lao động Việt Nam, công ty tuyển dụng Việt Nam, chủ thuê/kafeel Ả Rập Xê Út và công ty tuyển dụng Ả Rập Xê Út). Đây là điều cần thiết để ràng buộc cả bốn bên phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ của mình. Kinh nghiệm thế giới đã được thực hiện nhằm giải quyết phần nào tình trạng lạm dụng lao động giúp việc nhà triền miên này. Việt Nam nên học hỏi kinh nghiệm của Philippines và Cambodia. Chính phủ ở hai nước này đã sử dụng Hợp đồng Lao động Tiêu chuẩn bốn bên để bảo vệ nữ lao động giúp việc gia đình đến từ nước của họ, ngay sau khi họ ký HĐLĐSP: 2013 Philippines ký với Ả Rập Xê Út, và 2016 Cambodia ký với Ả Rập Xê Út.

Enjoyed this article? Subscribe to New Mandala

Keep up to date with opinionated, informed and accessible commentary on Southeast Asia from leading researchers. Leave your email address in the field below and you'll receive new posts in your inbox as they are published.

Vietnam at New Mandala

The end of an era for Vietnamese labour journalism

On the demise of Người Lao động

Coffee, conflict, and inadvertent state-building in Vietnam

How state-building can work from the bottom up